Sách lược "Tâm Công"

Nhằm tập hợp ḷng  người

 

 

Nguyễn văn Thành

                     Lausanne

Từ 1950, nhiều tác giả đă viết về Nguyễn Trăi. Ai ai cũng đều ca tụng danh nhân nầy như một con người lỗi lạc, xuất chúng ở mọi mặt : Văn chương cũng như chiến lược, đạo đức cũng như ngoại giao...

Đối với Vơ Văn Ái, Nguyễn Trăi trước tất cả và trên tất cả là một "Thiền sư chứng ngộ". Cùng với Lê Lợi, trên chiến trường đánh Quân Minh, ông có khả năng "biến chữ ra người, ra sóng thần, ra hương, ra mật, nhưng cũng ra gươm, ra lệnh (...). Mỗi lời, mỗi ư, mỗi câu, mỗi bức thư của Ông là một lần khai thị. Nó xoáy động tâm tư kẻ đọc. Nó làm cho họ thao thức, khắc khoải, so đo, dao động. Nó làm cho người đọc tônh thức. Họ được khai thị. Họ được vén màn khái niệm đă che mờ thực tại tự bấy lâu" .

Qua tác phẩm của Trần Huy Liệu, Nguyễn Trăi nổi bật lên như "người có tài cao, chí lớn vào bậc nhất trong lịch sử Việt Nam". Hơn nữa, Nguyễn Trăi cũng được coi là "người có đạo đức lớn" . Trước bao nhiêu thử thách và gian khổ, Ông luôn luôn là người "bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất" có nghĩa là: gặp nghèo hèn, vẫn can trường đứng thẳng, không thay đổi, xoay chiều. Trước sự đe dọa của uy quyền và vũ khí, Ông không hề chịu khuất phục, chấp nhận làm tay sai cho ngoại nhân xâm lược.

Với hai tác phẩm , Bùi Văn Nguyên tŕnh bày nhiều tin tức mới lạ, độc đáo làm cho Nguyễn Trăi sáng rực lên như "Ánh sao Khuê". Trong tất cả sự nghiệp văn chương của Ông - Chiến đấu kiên cường cũng như trữ t́nh thâm thúy - người, vật và đất nước luôn luôn có quan hệ mật thiết, giao thoa thực sự với nhau. Và trong suốt đời, lúc làm quan ở Triều đ́nh cũng như khi về ở ẩn tại Côn Sơn, Nguyễn Trăi là "một người sống b́nh dị, vui hưởng cuộc đời thanh bạch". Nói đến Nguyễn Trăi là nói đến "một tấm ḷng v́ nước, v́ dân". Tấm ḷng ấy cần được tiếp nối và kiện toàn để trở nên vạn xuân và đại việt trong cuộc đời của chúng ta. Vạn xuân, trong lăng kính nầy, có ư nghĩa là bất tử, bất diệt, trường tồn. Đại việt, trái lại, là khả năng vượt thắng chính ḿnh, để ngày ngày vươn lên tới một cuộc sống vĩ đại và cao cả, theo chí hướng văn hóa do tổ tiên cha ông đề ra, từ đời Lạc Long Quân và trối trăn lại cho con cháu và các thế hệ về sau.

Vượt trên tất cả, theo thiển ư của tôi, là tác phẩm trường thiên tiểu thuyết về Nguyễn Trăi, mang tên là Vạn xuân, của nữ văn sĩ người Pháp Y. Feray, do Nguyễn Khắc Dương chuyển dịch ra tiếng Việt. Thể theo quan điểm của tác giả, Nguyễn Trăi "vừa là một thi hào, một nhà viết văn cừ khôi, vừa là một chiến lược gia có tầm mắt viễn thấu, một nhà ngoại giao tài t́nh, một nhạc sĩ lịch lăm, một nhà địa lư thông thái và là một nhà sư phạm tuyệt vời" . Tuy nhiên cuộc đời của Nguyễn Trăi cũng là một tấn bi kịch đầy xót xa và thương đau. Phải chăng đó là tấn bi kịch của một vĩ nhân sinh ra trong một xă hội với ḷng người c̣n quá hẹp ḥi và bé nhỏ?

Nói khác đi, phải chăng Nguyễn Trăi là người yêu nước vĩ đại bị dày ṿ ngay trong chính quê hương của ḿnh, theo cách nhận định của nhà đông học E. Gaspardonne?  "Bị dày ṿ" có nghĩa là bị bấn nát, điêu đứng, tiêu điều. Tôi sợ rằng: lối nói nầy có vẻ hơi quá đáng. Tuy nhiên, trong quá tŕnh văn hóa của Cộng đồng và dân tộc Việt Nam nhiều sự cố đau buồn đă và đang làm cho Nguyễn Trăi và tất cả chúng ta thao thức, trăn trở. Mỗi triều đại, mỗi chính thể, từ trước cho tới nay, luôn luôn bắt đầu bằng một vụ tàn sát, thanh trừng, đổ máu. Phải chăng Tể Tướng Trần Thủ Độ - vị đại công thần khai nguyên Nhà Trần - đă chôn sống tất cả những anh em bà con họ Lư trong hoàng tộc? Và ra lệnh cho những ai mang danh họ Lư phải đổi ra họ Nguyễn?

Sau nhà Trần, với Hồ Quí Ly, ṿng luân hồi vẫn tiếp diễn. Sau khi cưỡng bức hoàng đế Trần Thuận Tông nhường ngôi, Ông đă sai người tới thắt cổ nhà vua. Đồng thời, Ông loại trừ cùng một lúc 370 vị quan trung thành với triều đại cũ.

Trong quá khứ gần và xa, thay v́ lănh đạo đất nước, nhiều người trong cha ông chúng ta muốn làm công việc "Nhổ cỏ". Đối với họ, nhổ cỏ phải nhổ tận gốc. Thà giết lầm người anh em,  hơn  là để kẻ thù sống sót! Rốt cuộc, với năo trạng hận thù, thủ tiêu và bạo động, luôn luôn ám ảnh, trong bao nhiêu người trước kia là anh chị em, cuối cùng không c̣n ai là anh chị em. Mọi người đă trở thành kẻ thù. Không ai c̣n mang tính người, trong lối nh́n và cách thuyên giải của chúng ta! Họ đă hóa thành một đồ vật. Một loại người bị tước đoạt tính người.

Với sách lược "Tâm Công", Nguyễn Trăi đi lại, lấy lại, sáng tạo lại con đường văn hóa của Lạc Long Quân. Mặc dù mang trong ḿnh ḍng máu của Rồng và nơi ở của Ḿnh là Nước, Lạc Long Quân đă kết duyên với Âu Cơ. Bà thuộc ḍng máu của Tiên. Quê hương của Mẹ là Đônh núi và Trời cao. Mặc dù khác biệt nhau như trời và nước, hai người đă tạo thành hôn phối ; sinh ra một trăm đứa con chia sẻ cùng nhau một bọc trứng duy nhất. Cho nên, họ gọi nhau là anh chị em "đồng bào", ruột thịt. Quê hương của họ, do Cha Mẹ trối lại, mang tên là Non Nước ; Núi Sông. Vừa cương trực, hướng thượng, hiền trí như Núi. Vừa bao dung linh hoạt, kiên tŕ, có khả năng đồng hóa tất cả, như nước. Phải chăng hai tư cách làm người ấy diễn tả bản sắc, gốc gác của người Việt Nam?

Câu chuyện huyền sử nầy, theo ngôn ngữ của Thiền học Phật giáo được gọi là một công án, do tổ tiên trối trăn lại cho con cái , cháu chắt và các thế hệ tương lai. Tháo mở được công án nầy, phát hiện nhiều tầng lớp ư nghĩa khác nhau đang được cưu mang ấp ủ ở bên dưới, người Việt Nam sẽ "ngộ" nghĩa là thấy được con đường "làm người" là ǵ, thể thức xây dựng đất nước bắt đầu từ đâu ... Trong chiều hướng và ư nghĩa ấy, công án không phải là một bài tính đố, chúng ta có thể giải quyết bằng lư trí thuần đơn hoặc bằng mưu lược, ư đồ hay là ư thức hệ. Trái lại, đó là một "tư cách làm người", chúng ta cần đầu tư với tất cả "tấm ḷng" vừa có t́nh vừa có lư. Vừa sáng tạo trong cô đơn thầm lặng, vừa không ngừng chia sẻ và đồng hành với tất cả những ai đang làm người, mặc dù họ đang thuộc phe bên kia, đang đứng ở trên một chiến tuyến thù địch, xâm lược và thực dân.

Những ư hướng làm người ấy sẽ được Nguyễn Trăi tô đậm một cách khéo léo trong sách lược Tâm Công của ḿnh.

"Tâm Công" được thành h́nh trong hoàn cảnh nào?

Tâm công có nghĩa là đánh vào ḷng người, thu phục nhân tâm.

Theo tác phẩm Vạn Xuân của Y. Feray, sách lược "Tâm công" được Nguyễn Trăi tŕnh bày lần đầu tiên cho các quan chức của Triều đ́nh Hồ Quí Ly, khi hiểm họa xâm lược của quân Minh đă bắt đầu truyền đạt khắp nơi, trong các lớp quần chúng ở Thủ đô Thăng Long .

"Vấn đề tiên quyết mà t́nh thế rối ren hiện tại đặt ra la : làm sao để vũ trang cho đất nước, tăng cường khả năng bảo vệ non sông?

Sự đe dọa bên ngoài càng khẩn cấp th́ càng đ̣i hỏi phải có sự trị an ở bên trong lănh thổ của chúng ta. Nếu toàn dân đoàn kết lại chung quanh Hoàng Thượng, làm thành như chô một gia đ́nh, nếu các tướng sĩ và binh lính hiệp nhất với nhau như cha con th́ dẫu quân thù có đông hơn ta hàng ngàn lần, có vũ trang hơn chúng ta mười lần, chúng ta cũng không sợ.

(...)

Quân đội mạnh hay yếu không tùy thuộc ở nơi quân số chút nào cả, mà bắt nguồn từ những đức tính cao cả nầy: đó là hai chữ Nhân, Nghĩa.

(...)

Ai có ḷng nhân, người đó có thể dựa trên chính sự yếu đuối của ḿnh để chinh phục sức mạnh. Ai v́ đại nghĩa, người ấy có thể lấy ít chọi nhiều".

Để thực hiện công việc trị an và xây đắp sức mạnh cho quê hương, thể theo niềm xác tín của Nguyễn Trăi, ngoài con đường áp dụng công bằng và công lư trong mọi tầng lớp của xă hội, không có một chọn lựa thứ hai!

Làm sao có công bằng, khi người dân đen đang c̣n bị áp bức, bốc lột tận xương tủy của ḿnh?

Làm sao có công bằng, khi người dân đen chưa kiếm được mỗi ngày một bữa cơm, đang lúc kẻ khác sống thừa thải trên nhung lụa, gửi vàng và mỹ kim vào ngân hàng ở nước ngoài?

Chúng ta huấn luyện cả một đạo quân công an hùng hậu, có mặt ở khắp nơi, để truy nả kẻ phản loạn, săn bắt những trẻ em cướp giật, chặt đầu, chặt tay những người buôn lậu x́ ke, ma túy ... Nhưng chúng ta đă làm ǵ thoa dịu nỗi bất hạnh tột cùng của người dân đen? Nghèo khó, bất công mới là gốc rễ của tai họa đang lan tràn, hoành hành!  Căn bản của  vấn đề không phải là giảm trừ hậu quả. Nhưng là đối diện, nh́n thẳng mặt, không tránh né, đánh trống lăng trước hiện trạng nghèo khổ và bất công lan tràn khắp mọi nơi trong xă hội, trên đất nước chúng ta. Khi chúng ta giết xong một Tú Bà, bao nhiêu Tú Bà khác sẽ vùng dậy đàn áp nàng Kiều c̣n khắc nghiệt hơn. Lănh đạo đất nước là xây dựng con người, tạo ra mọi cơ hội thuận tiện như công ăn, việc làm, để mỗi người có khả năng làm người, có quyền làm người, hănh diện về tư cách làm người. Lúc bấy giờ cả một tập đoàn Mă Giám Sinh, Tú Bà không c̣n lư do tồn tại, như Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du đă phát hiện và mô tả.

Xây dựng, tôn trọng và phục vụ con người trong mỗi người dân, thuộc mọi tầng lớp, nhất là nơi những người thấp cổ bé miệng, đó là ư nghĩa sâu xa của kế hoạch "Tâm Công" trong tinh thần và lối nh́n của Nguyễn Trăi. Chô với điều kiện nầy, toàn dân mới đứng lên, nhất tâm, muôn người như một, để đối đầu với quân xâm lăng và bảo vệ đất nước được kiến dựng bằng máu và nước mắt từ đời Hồng Bàng.

Nói cách khác, theo lời lẽ của B́nh Ngô Đại Cáo, Tâm Công là "lấy Đại nghĩa mà thắng hung tàn; lấy chí nhân mà thay cường bạo". Khi chưa có đại nghĩa hay là công lư trong ḷng của quê hương, đất nước, t́nh trạng hung tàn đang ngự trị giữa ḷng của người dân Đại Việt. Khi chưa sống t́nh người, với từng người trong xă hội cùng mang một ḍng máu Tiên Rồng, chúng ta đang loại trừ và tàn sát lẫn nhau. Trong t́nh thế "gà một nhà bôi mặt đá nhau", làm sao chúng ta có thể ngăn chận làn sóng bạo động của quân Minh, từ phương Bắc, từ người nước ngoài?

Chính v́ những lư do đó, sau 7 năm hoạt động mà "không kết hợp được ḷng người", triều đại của Hồ Quí Ly đă tan vỡ thành mảnh vụn, một cách nhanh chóng, năm 1407, trước làn sóng xâm lăng ồ ạt của Phương Bắc.

Sau đó, trong ṿng 10 năm, từ 1407 đến 1417, những tàn tích của nhà Trần chô lo vớt vát, cứu văn gia đ́nh, ḍng họ ḿnh. Không một ai có khả năng qui tụ, kết hợp quần chúng thuộc mọi tầng lớp. Trần Nguyệt Hồ vào cuối thu 1407, Trần Nguyên Khoáng và Trần Ngỗi vào đầu năm 1408 đă đứng dậy chống quân Minh. Sau một vài chiến công lẻ tẻ, nghĩa quân v́ không được thống nhất, không c̣n có khả năng đương đầu, chống cự. Chung quanh 1417, với 5 vạn quân cầu viện, do triều đ́nh Minh Thành Tổ gửi sang, Trương Phụ đă bắt đầu củng cố và ổn định việc tổ chức, áp đặt chính quyền đô hộ trên đất nước Đại Việt.

***

Bảy động tác cụ thể của "Tâm Công"

Để sách lược "Tâm Công" của Nguyễn Trăi không phải chô là lời nói hoa mỹ, một cấu trúc lư thuyết thuần đơn hay tệ hơn nữa là một ư thức hệ, một giáo điều khô cằn, chô nhằm tuyên truyền, quảng cáo một chính thể hay một tôn giáo, chúng ta cần t́m ra những động tác cụ thể và khách quan, những "cách làm" hữu hiệu. Khoa học tâm công bao gồm cả Tâm liền Tài. Tài suông chô đẻ ra tai họa. Tâm thuần đơn, không nhập thân, nhập thể, đó là duy tâm cực đoan, một h́nh thức thực dân do thần phật áp đặt từ bên ngoài. Và con người lúc bấy giờ chô là nạn nhân, đồ vật hay là con múa rối. Con người phải là tác giả của đời ḿnh. Giúp ai thành người là tạo điều kiện để họ làm chủ cuộc đời của ḿnh.

Trong tinh thần và ư nghĩa như vậy, tâm công là một tiến tŕnh văn hóa bao gồm những động tác, những qui luật tất yếu sau đây:

Động tác thứ nhất thuộc sách lược "Chinh phục ḷng người" là không ngừng sáng tạo. Trong một quê hương đất nước, mọi người, cho dù khác biệt nhau ở nhiều b́nh diện, đều là anh chị em đồng bào có những đặc ân, đặc quyền giống nhau. Không một ai là chủ nhân ông, có quyền đối xử người khác như một tên nô lệ chô có bổn phận tùng phục, thừa hành. Bao lâu chưa có viên đá tảng nầy làm nền móng, trong mọi công cuộc xây dựng đất nước và phục vụ anh chị em đồng bào ; tất cả những điều kiện c̣n lại đều là láo khoét, bịp bợp, "treo đầu heo bán thịt chó", như người b́nh dân thường bảo nhau. Trái lại, khi nắm vững nguyên tắc "mọi người có quyền làm người và có quyền được cư xử, đải ngộ như một con người toàn phần", chúng ta sẽ sáng tạo để chuyển biến lối nh́n ấy thành hành động cụ thể trong cuộc sống hằng ngày. Khi sáng tạo như vậy, chúng ta thích ứng với thực tế và thực tại cụ thể.

***

Động tác thứ hai là kết hợp một cách hài ḥa bên trong và bên ngoài hay là tâm và thân. Khi có bên trong mà không có bên ngoài, chúng ta chô là hồn ma phiêu bạt, lang thang, vô gia đ́nh, vô tổ quốc. Khi có ngoài mà bên trong trống rỗng, đó là "con nộm đa ngôn hay là con múa rối."

Là con người thực sự và trọn vẹn, chúng ta có khả năng quyết định, chọn lựa, động viên chính ḿnh. Khi "bị chô đạo từ bên trên, bên ngoài và bên dưới, chúng ta sẽ biến thân thành đồ vật, dụng cụ trong bàn tay lèo lái, sai sử của kẻ khác. Nếu người chô đạo từ bên trên là thần phật, người bị chô đạo sẽ là tín đồ mê tín, dị đoan. Nếu chô đạo là người ở ngoài, chúng ta sẽ là những bồi bút. Nếu bị chô đạo bằng những năng lực vô thức như dục vọng tham, sân, si ... Chúng ta chưa làm người, chúng ta c̣n bị ngụp lặn trong ngục tù của khổ đau. Chúng ta đang sống trong t́nh trạng làm nạn nhân cho những đối lực mà chúng ta không biết, không dám nh́n tận mắt và gọi tên. Đó là vô thức, theo thuật ngữ của Phân tâm học.

***

Động tác thứ ba là khả năng sắp xếp điều ǵ là hành động từng ngày, điều ǵ thuộc mục tiêu ngắn và dài hạn, điều ǵ là viễn ảnh, viễn tượng lớn lao và lâu dài c̣n được gọi là mục đích tối hậu, lư tưởng của cuộc sống làm người.

Vào những năm 1950, bao nhiêu thuộc địa của Pháp và Anh, ở Phi và ở Á Châu, gần như đồng loạt nổi dậy đánh đuổi thực dân xâm lược. Sau khi mục tiêu được thành đạt, với bạo động và bom đạn ; rất nhiều xứ sở không biết phải đi về đâu, ư nghĩa cần đeo đuổi gồm có những bước đi lên như thế nào. Quen máu bạo động, họ tiếp tục sử dụng bạo động với người đồng chí, đồng hương. Sau khi đuổi Pháp, họ thanh trừng những người theo Tôn giáo của các vị thừa sai Pháp. Rốt cục, sau chiến tranh giải phóng đất nước, họ nhảy qua chiến tranh diệt chủng, hay là chống tôn giáo.

Theo St. Covey, "phải đặt lên hàng đầu, cái ǵ là ưu tiên số một" (first things first) . Trong lối nh́n Tâm Công, do Nguyễn Trăi tŕnh bày trước hội nghị Triều đ́nh của Hồ Quí Ly, thực hiện công bằng và mang lại cho quần chúng dân đen một mức độ ấm no tối thiểu cần thiết, là hai ưu tiên số một cần thực hiện trong nỗ lực "đánh vào ḷng người" để ngăn chận hữu hiệu làn sóng xâm lăng của ngoại bang từ Minh triều.

Khi có một thứ tự rơ ràng trong nội tâm như vậy, theo Nguyễn Trăi, chúng ta sẽ có khả năng "dừng lại" khi nào cần dừng lại. Ví dụ, khi đă sử dụng bạo động "một cách chính đáng" để bảo vệ đất nước và chủ quyền của Đại Việt, chúng ta biết dừng lại (an nhữ chô) khi bạo động không c̣n cần thiết. Dừng lại như vậy không có nghĩa là bất động, nhưng là trở lui ở vị trí và việc làm xứng hợp nhất với cương vị và tư cách của ḿnh (theo lối nói "chô ư chí thiện" của sách Đại Học) . Nói khác đi, bạo động chô là phương tiện cực chẳng đả, đối với những ai có tư cách làm người, sống t́nh người. Bản sắc đích thực của họ là tôn trọng tính người. Thực hiện nhân đạo, nhân nghĩa là nơi nhắm tới, là cùng đích làm cho họ phát huy mọi chiều kích tâm linh của ḿnh.

***

Động tác thứ bốn trong sách lược Tâm Công là lắng nghe người đối diện, bất kể họ là ai, thuộc thành phần hoặc giai cấp nào trong xă hội. Lắng nghe để t́m hiểu và nh́n nhận tính khác biệt và độc đáo của họ. Thay v́ áp đặt cho họ ư kiến, lập trường và thể thức hành động của chúng ta. Khi lắng nghe thực sự và trọn vẹn, chúng ta tôn trọng chủ quyền của ho : chính họ mới là tác giả đầu tiên và cuối cùng của cuộc đời họ. Với chức vụ lănh đạo, dù ở cấp bậc, lớn lao đến độ nào trong hệ thống tổ chức xă hội, chúng ta chô làm công việc "hộ sinh", nghĩa là tạo điều kiện thuận lợi cho phép họ thành người. Chúng ta không thể làm người thay thế họ. Bao lâu người dân không đảm nhận trách vụ "yêu nước, bảo vệ non sông", không ai có thể ép buộc họ. Với những áp lực "súng ống, chô tiêu lương thực, trại cải tạo...." chúng ta càng gia trọng sức ù ĺ và phản kháng mà thôi.

Trong địa hạt giáo dục thuộc xă hội ngày hôm nay, hiện tượng thanh thiếu niên bỏ nhà ra đi lập băng đảng cướp giật, hút xách càng ngày càng lan tràn. Một trong những lư do chủ yếu là v́ chúng nó không được cha mẹ, thầy cô lắng nghe.

Ư nghĩa thứ nhất của lắng nghe, như tôi đă tŕnh bày trên đây, là tôn trọng chủ quyền và tính khác biệt của người mà chúng ta lắng nghe.

Ư nghĩa thứ hai của lắng nghe là, chấp nhận, đón nhận và nh́n nhận nhu cầu của người phát biểu, diễn tả. Nhu cầu nói ra những ǵ được cưu mang ấp ủ trong nội tâm đồng hóa với nhu cầu làm người.

Để lănh hội một cách  rốt ráo hai ư nghĩa nầy, chúng ta cần khảo sát hai cách hành xử và đăi ngộ của chúng ta đối với người mà chúng ta đang tiếp xúc và trao đổi.

Thứ nhất là ghi nhận, nhấn mạnh những thiếu sót của người ấy trong t́nh thế hiện tại. Lẽ tất nhiên, càng quét nhà, chúng ta càng đào ra rác. Khi có ư định t́m ra những khuyết điểm nơi người khác, thế nào chúng ta cũng sẽ thấy nơi họ điều ấy sẽ xảy ra bằng cách nầy hay cách khác.

Thứ hai là cử xử và đăi ngộ người ấy theo tiêu chuẩn dự phóng cho tương lai mong muốn của người ấy. Nếu người Mẹ cư xử với con như một người có giá trị, nó sẽ thành người "trưởng thành" theo cấp độ phát triển của nó. Nếu trong lối nh́n của người lănh đạo, người dân đen chô là nô lệ hay là công cụ; người lănh đạo trong lời ăn tiếng nói của ḿnh sẽ tạo ra những lớp người nô lệ, thay v́ coi trọng họ như một thành viên đồng hành và hợp tác với ḿnh, trong cộng đồng đất nước. Theo tục ngữ của người Việt Nam "Yêu nên tốt, ghét nên xấu". Hẳn thực, khi ai được thương, người ấy sẽ dần dần trở nên dễ thương. Và khi ai bị ghét, dần dần họ trở thành con người dễ ghét.

***

Về mặt kỹ thuật, để hiểu rơ chúng ta thực thi những động tác nào khi lắng nghe, chúng ta cần phân biệt minh thị bốn địa hạt của nội tâm sau đây:

Thứ nhất khi kẻ khác ghi nhận những tin tức hoặc sự kiện khách quan, chúng ta yêu cầu họ hai điều : kiểm chứng bằng cách xác định những câu hỏi nhằm môi trường hóa tin tức: ai, ở đâu, khi nào, thế nào, bao lâu ... Sau đó bổ túc những tin tức thiếu sót, bằng cách yêu cầu họ đặt ḿnh vào một vị trí khác và lối nh́n khác ... Ví dụ, khi Hoàng Phúc tŕnh bày nhân nghĩa theo quan niệm của Minh Triều, Nguyễn Trăi đă gây ư thức cho vị tướng lănh nầy về lũy tre xanh, về đồng lúa, về núi non của người Đại Việt... Không chấp nhận người Đại Việt có chủ quyền trên nước non của ḿnh, quân Minh c̣n nhân nghĩa hay không?

***

Thứ hai là lề lối thuyên giải hay là cách tŕnh bày về ư nghĩa  của cuộc sống. Trong lănh vực nầy, không một ai có thể tranh giành cho ḿnh toàn quyền về chân lư, sự thật. Và tuyên bố một cách đơn phương rằng : kẻ khác lầm lạc, kẻ khác có ư đồ đen tối hay là kẻ khác có lỗi, họ là nguyên nhân gây ra mọi tai ương hoạn nạn, c̣n tôi là người hoàn toàn trong trắng và vô tội.

Khi nuôi dưỡng ấp ủ những tư tưởng nhị nguyên nầy trong thâm sâu của nội tâm, vô t́nh hay hữu ư chúng ta đang là tên thực dân, xâm lăng, xâm lược quyền làm người của kẻ khác đang sống hai bên cạnh. Trong lăng kính và ư nghĩa nầy, theo tâm lư học đương đại, nhất là khoa phân tâm của Freud, đôi khi chính cha mẹ là người "thực dân" đối với con cái của ḿnh, khi họ quá đàn áp và hạn chế sức sống hồn nhiên và tự phát của chúng. E. Berne với phương pháp "Phân tích những trao đổi" (Analyse transactionnelle, thường thường được viết tắt là A.T.), cũng đưa ra những kết luận tương tự. Trong quan hệ giáo dục, nếu cha mẹ quá độc tài hay là quá bao cấp, đứa con sẽ dần dần biến thân thành phản động hay là lệ thuộc .

***

Thứ ba, khi kẻ khác diễn tả t́nh cảm và xúc động của ḿnh, như buồn, sợ, tức giận, đau khổ ... Phương pháp Tâm Công của Nguyễn Trăi yêu cầu chúng ta thực thi bốn giai đoạn cụ thể:

1.- Nêu ra sự kiện khách quan, có phần vụ dẫn khởi khai chuyển hơn là làm nguyên nhân phát sinh xúc động và t́nh cảm. Theo ngôn ngữ của tâm lư phật giáo, c̣n mang tên là Duy thức học, những yếu tố dẫn khởi ấy chô là "duyên" như nước tưới, đất mầu, khí thở và ánh sáng giúp cho cỏ cây có điều kiện lớn lên, đâm chồi nẩy lộc. Nhưng đó không phải là "Nhân", nghĩa là hạt mầm sinh ra cây cối. Hẳn thực, chính chúng ta là tác giả của cuộc đời chúng ta đang sống.

2.- Phản ảnh nghĩa  là nói lại, vọng lại cho chính chủ nhân diễn tả hiểu rơ, có ư thức về những phản ứng tâm lư đang xảy ra trong nội tâm của họ.

Theo lời thú nhận của bạn, bạn đang buồn và lo. Có đúng như vậy không?

Cách phản ảnh tài t́nh và thích ứng sẽ được ghi nhận, khi người đối diện tỏ ra đồng ư và đồng thuận với chúng ta.

Nhờ đó, họ càng diễn tả nhiều hơn, dễ dàng hơn và thích hợp với thực tế nội tâm của họ.

3.- Tiếp theo đó, chúng ta phát hiện nhu cầu của chủ nhân diễn tả. "Theo tôi hiểu, sau khi lắng nghe: bạn đang cần ..."

4.- Nhiều khi chúng ta có thể khám phá tức th́ ước muốn hay là lời yêu cầu của họ.

"Qua lời phát biểu, bạn cho tôi thấy : bạn đang ước muốn ... yêu cầu cơ bản của bạn là...

Theo phân tâm học, khi thuyên giải, tôi chô có thể lặp lại hay là bắt chước ư kiến của kẻ khác. Tôi chọn làm của ḿnh bao nhiêu tin tưởng hay lập trường đă được giao lưu trong môi trường sinh sống, bằng những phương tiện truyền thông xă hội.

Ngược lại, khi diễn tả xúc động, tôi mặc khải, bày tỏ thực tế, thực tại chủ quan và độc đácủa tôi. Nhờ đó kẻ khác có khả năng hiểu tôi và thỏa măn, đáp ứng nhu cầu của tôi.

Thay v́ diễn tả một cách trung thực, nghĩa là có sao nói vậy, một cách đơn sơ, trực tiếp, nhiều người v́ thiếu tôi luyện và học tập, có xu thế đi ṿng vo tam quốc, hay là tŕnh bày cách úp mở, gián tiếp, c̣n mang tên là xuyên tạc, bóp méo. Và cách xuyên tạc thông thường có mặt ở khắp nơi là tố cáo, phê phán, đổ lỗi, mạ lị, tấn công người khác, thay v́ nói lên những nhu cầu thâm sâu và những nguyện vọng thiết tha của chính ḿnh.

Thậm chí trong điều kiện và trường hợp xuyên tạc như vậy, những ai có khả năng và kỹ thuật lắng nghe (nghĩa là vừa có tâm, vừa có tài), người ấy vẫn nhận ra những t́nh cảm và xúc động của người đối diện.

"Qua cách hoa tay múa cánh và nét mặt hung hăng của bạn, tôi thấy bạn đang bực tức giận dữ, phải không?

- "Tôi cảm nhận rằng bạn đang có những xúc động mạnh, nhưng chưa biết gọi tên là ǵ . Bạn có thể chia sẻ nói cho tôi hiểu rơ thêm về nhu cầu hiện tại của bạn ..."

Tâm công chính là công việc nhận ra, đón nhận, nh́n nhận và coi trọng những nhu cầu t́nh cảm của người khác.

Khi coi trọng như vậy, chúng ta lựa chọn vị trí làm đồng minh, đồng bào. Đồng thời chúng ta sáng suốt khước từ vị trí và thái độ làm thù nghịch, đối phương. Nh́n nhận và coi trọng như vậy, trong tiếng Pháp là Valider, nghĩa là đánh giá cao. Xúc động và  t́nh cảm được coi là một giá trị, chứ không phải là điều xấu hổ cần che giấu. Khi chúng ta dồn nén, kiểm duyệt, ức chế xúc động, bất kỳ xúc động ǵ, chúng nó không biến tan, không bị tiêu diệt. Dưới những bộ mặt ngụy trang, chúng nó xuất hiện ở chỗ khác và khi ấy khả năng tác hại của chúng nó c̣n lớn lao hơn trước và rất khó hóa giải.

Nói tóm lại, khi nh́n nhận và coi trọng t́nh cảm và xúc động của ai, chúng ta tạo điều kiện thuận lợi và tốt hảo cho phép người ấy thành người.

Thêm vào đó, khi những xúc động mănh liệt như hận thú, ghen ghét, hiềm khích, nghi kÿ được diễn tả bằng ngôn ngữ chia sẻ, trao đổi, chúng nó không c̣n mượn con đường bạo động, đấm đá, sát hại, thủ tiêu ... Bao lâu c̣n có khả năng nói qua nói lại, trao đổi, chia sẻ và đối thoại, vấn đề cho dù trầm trọng gây cấn đến đâu cũng có con đường hóa giải. Theo lối nh́n của G.G. Jampolsky  "No matter what the problem, love is the answer", bất kể vấn đề là ǵ, trầm trọng đến đâu chăng nữa, t́nh thương là câu trả lời. Là cách giải đáp. Và chỗ nào có t́nh thương, chỗ ấy không có bạo động. Nguyễn Trăi đă khẳng định cách đây hơn năm thế kỷ :

"Lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn,

Lấy chí nhân mà thay cường bạo".

Nhân nghĩa là ǵ, nếu không phải là t́nh thương, t́nh người, giữa những người nh́n nhận nhau là Người Đăi ngộ nhau với tư cách "làm người" ngày ngày đổi mới, đánh sáng không ngừng, theo lời dạy "nhật nhật tân, hựu nhật tân" của người xưa trối lại cho chúng ta.

***

Động tác thứ năm trong sách lược Tâm Công là xây dựng quan hệ hài ḥa, đồng hành và chia sẻ. Giữa ta và người, không có kẻ thắng người thua. Về mặt tư cách và giá trị làm người, không có kẻ trên người dưới. Mọi người b́nh đẳng. Khi phải thuyên giải, nghĩa là t́m ra ư nghĩa và hướng đi cho cuộc sống làm người và thể thức xây dựng đất nước, mọi người là thành viên toàn phần trong cộng đồng, đất nước. Ai ai cũng có tiếng nói. Ai ai cũng có quyền phát biểu. Ai ai cũng có quyền khác biệt. Chỗ nào có "bá nhân"  (một trăm người), chỗ ấy có "bá tánh" (một trăm ư kiến). Đó là lẽ thường t́nh và tự nhiên. Đó cũng là qui luật tất yếu, phải có trong cuộc sống.

Tuy nhiên, khác biệt mà không khai trừ, loại thải nhau, hay là tranh chấp và xung đột.

Xung đột chô xảy ra, khi năo trạng nhị nguyên đàn áp, ức chế quan hệ đồng hành và chia sẻ. Lúc bấy giờ "lư kẻ mạnh bao giờ cũng thắng". Mỗi người tranh giành cho ḿnh phần thắng, phần hơn, phần có lư ; và t́m cách "hạ bệ" kẻ khác về mặt giá trị và quyền lợi. Một cách đặc biệt, khi có một vấn đề xảy ra, gây khó khăn cho cuộc sống, hay là ngăn cản bước tiến của toàn thể cộng đồng, đất nước, quê hương ... Nếu chúng ta mang năo trạng nhị nguyên, chúng ta sẽ phân chia anh chị em đồng bào thành hai phe trắng đen rơ rệt : một phe bạn, một phe thù. Phe bạn bao gồm những người được chúng ta đánh giá là "yêu nước chân chính". Phe thù bị qui chụp và kết tội là "bán nước, phản bội, đồi trụy ...".

Nếu chúng ta có một lối nh́n "Tâm Công" giống Nguyễn Trăi, chúng ta sẽ thấy trong một cộng đồng quê hương, mọi thành phần phía bên này cũng như phía bên kia, người làm dân cũng như người lănh đạo, mọi người đều liên đới với nhau, cùng chia sẻ một trách nhiệm. Ai ai cũng đóng góp phần ḿnh, tùy hoàn cảnh, địa vị và thực tế của ḿnh.

Ai mất nước khi Quân Minh xâm lăng Đại Việt? - Toàn dân, toàn quân, từ vua, triều đ́nh đến mỗi người dân đen vô danh tiểu tốt!

Ai có bổn phận chiến đầu để thu hồi chủ quyền cho Đại Việt? - Cũng toàn dân, toàn quân!

Trong cuốn tiểu thuyết Vạn Xuân, những cô gái như Tiểu Mai, Hương Thầm   bị quần chúng "khạc nhổ, khinh thị ...". Trong bóng tối, chính họ đă đóng góp phần ḿnh một cách rất hữu hiệu cho công cuộc kháng chiến. Không  có cái chết của Tiểu Mai, chưa hẳn Nguyễn Trăi đă ra đi, tiếp xúc với nghĩa quân của Lê Lợi. Không có Hương Thầm can thiệp một cách kín đáo, tế nhị bên cạnh Hoàng Phúc, vị tướng lănh của Quân Minh, chắc hẳn Nguyễn Trăi đă chết rũ tù và B́nh Ngô Sách không bao giờ ra đời ...

***

Động tác thứ sáu là gieo văi và gặt hái thành quả của cuộc hôn phối âm và dương, nước và non, Tiên và Rồng, thuyền và nước. Nói cách khác, đó là khả năng chuyển biến từ không ra có, từ yếu thành mạnh, từ ít ra nhiều. Lối nói chuyên môn trong tiếng Anh, có khả năng diễn tả động tác nầy, là Synergizing. Theo cách giải thích của St. Covey, khi biết kết hợp một cách hài ḥa hai đối lực khác biệt nhau, kết quả cụ thể không phải là một tổng số, nhưng là một nhân số. Một cọng với một, trong ư nghĩa và chiều hướng "Tâm Công", không phải thành hai, nhưng thành "Vạn Xuân". Khi lấy thương trả lời cho ghét, khi lấy đoàn kết trả lời cho chia rẽ, khi lấy an ḥa trả lời cho bạo động, khi lấy bao dung trả lời cho kỳ thị, khi lấy vô úy nghĩa là tinh thần bất khuất trả lời cho bom đạn, súng ống .. Chúng ta làm cho anh chị em đồng bào trở thành bất tử. Chúng ta xây dựng đất nước thành Vạn xuân, một mùa Xuân trường cửu, bất tận.

Nói tóm lại, sách lược "Tâm Công" của Nguyễn Trăi đánh sáng và làm mới lại gia tài của Lạc Long Quân và Bà Âu Cơ. Nếu ư thức được rằng ḿnh đang mang hai ḍng máu Tiên và Rồng, mỗi người Việt Nam sẽ cố quyết trở nên con người trọng đại và cao cả, đúng như lời thơ của thi sĩ Trụ Vũ:

"Bởi v́ mắt thấy Trời Xanh,

"Cho nên mắt cũng long lanh màu trời.

"Bởi v́ mắt thấy Biển Khơi,

"Cho nên mắt cũng xa vời đại dương".

***

Động tác thứ bảy là ngày ngày đánh sáng lại Đức Sáng làm người đă có mặt trong mỗi người. Tâm Công trong lăng kính ấy, không bao giờ là điểm đến, nhưng là một tiến tŕnh không bao giờ kết thúc chấm dứt. Tâm Công nói được là một lời thề keo sơn gắn bó giữa những con người mang nặng Nước và Non trong quả tim của ḿnh, theo như lời nhắn nhủ của thi sĩ Tản Đà :

"Non cao tuổi vẫn chưa già,

"Non thời nhớ nước, nước mà quên non.

"Dù cho sông cạn đá ṃn,

"C̣n non c̣n nước hăy c̣n thề xưa.

"Non cao đă biết hay chưa:

"Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.

"Nước non hội ngộ c̣n luôn,

"Bảo cho non nhớ có buồn làm chi.

"Nước kia dù hăy c̣n đi.

"Ngàn dâu xanh tốt non th́ cứ vui.

"Ngh́n năm giao ước kết đôi,

"Non non nước nước không nguôi lời thề".